Những công trình tiêu biểu năm 2012-2013

Posted in Kiến trúc on 02/07/2013 by ktstruongvancuong

NHÀ PHỐ:

Nhà Anh Kiểm (Đồng xoài) Tân Bình đã hoàn thành.

MDCHINH2 copy

PC CHIM BAY 2

Nhà Anh Tô Xuân Ân Q12

30PCTT MN  copy

Nhà Anh Hùng (Bình Thạnh)

MAT DUNG CHINHMBTT

Phương án chọn

mdung truoc copy

PCTT copy

Nhà Anh Danh Q.Gò Vấp

md truoc

Nhà Anh Tuấn (Tân Sơn.)

PHUONG AN 1A

Phương án 1

PHUONG AN 2

Phương án 2

Cải tạo nhà chị Hoà. ( giữ đường viền)

MB LAU2 copyMB LAU 3 copyMB LAU 4 copy PC CHIM BAY MD CHINH copy MD TRUOCNOI THAT TONG THE VIEW2w

 

NOI THAT TONG THE VIEW1wNOI THAT PHONG KHACH w
NT PHONG ANwMAT BANG TONG THE LAU 3(1)

NOI THAT PHONG BO ME1

 

NOI THAT PHONG BO ME2VE SINH BO ME
MB TANG THUONG (1)

KHÁCH SẠN:

Khách sạn Cam Ranh

MDTRUOCPC CHIM BAY

NHÀ HÀNG DAKMIL

NHA HANG DAKMIN

DỊCH VỤ CAFE: 

CaFe dã ngoại Lý Sơn:

IN MAT BANG TONG THE

Khu CaFe  DAKMIL

TT1 ÖEBMD1web

CHUNG C Ư:

Khu chung cư 105 Tây Sơn.Bình Định

1v

2v3vCHI TIETv

Khu Cafe sân vườn Tây Nguyên ( DakMil)

Posted in Kiến trúc on 06/06/2012 by ktstruongvancuong

Những công trình tiêu biểu mình đã thiết kế( The projects designed by me)

Posted in Kiến trúc on 22/10/2010 by ktstruongvancuong

I.Biệt thự:

1.Biệt thự nhà Anh Hạnh Củ Chi.

Mặt đứng trước

Mặt đứng bên

Phối cảnh tổng thể

2.Biệt thự Anh Hùng Đà Nẵng.

Phối cảnh góc

3.Biệt thự Hoàng Anh HCM


Phối cảnh góc

4.Biệt thự Bà Nguyễn Chị Ngọc Cẩm HCM

Phối cảnh góc

4.Biệt thự Anh Ân, Q12, TP.HCM

2

II.Nhà phố:

Phối cảnh nhà bạn Hạnh

Phối cảnh nhà A Hùng(Bùi ĐìnhTuý)


Văn phòng, nhà ở Anh Tuấn PA1(BìnhThạnh)

Phương án chọn (HT 2010)

III.Chung cư:

1.Khu phức hợp Âu Cơ (2010):

Phối cảnh tổng thểPhối cảnh gócMặt đứng đường Âu CơMặt đứng kênh tân hòaPhối cảnh chi tiết góc 1Chi tiết góc 2

2.Chung cư Bình Phu 2


Phối cảnh góc

Mặt bên

Phối cảnh chim bay

Chi tiết góc

3.Chung cư Tân tạo lôA 2009 ( Tòa nhà Long Phụng chủ đầu tư Thái Sơn):

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh mặt đứng sau

4.Chung cư Tân tạo lô B

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh về đêm

5.Phương àn Chung cư ATIC 2011.(HTP, Q7)

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

M.đứng trước đường Huỳnh Tấn Phát

Mặt Bên

Phối cảnh tổng thể

6. Chung cư PPI 09/2011.(TX Thuận An, Bình Dương)

+ Phương án 1

Phối Cảnh tổng thể (PA 1)

Mặt Đứng tổng thể (PA 1)

Tổ chức không gian mặt bằng tổngthể (PA 1)

+ Phương án 2 (PA. Chọn dự kiến năm khởi công 2012)

Mặt Đứng Trước

Tổ chức không gian mặt bằng tổngthể

Mặt Bằng căn hộ điển hình

IV.Văn phòng :

1.Văn phòng Eximbank Quận 7

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

2.Văn phòng Xây lắp 6 Quận Bình Thạnh.

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

3.Văn phòng Eximbank 78 Trần Quang Khải Q1.

Phối cảnh góc

Phối cảnh mặt đứng trước

4.Toà nhà (Trụ sở Báo Sài GònGiải Phóng)

Toà nhà này công ty mình nhận thiết kế kỹ thuật và thi công.

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

Bài học cuộc sống từ lá thư cựu thủ tướng Đài Loan gửi con

Posted in Học về cuộc sống on 01/07/2014 by ktstruongvancuong

Sun Yun-suan là một nhà kinh tế, chính trị Đài Loan. Lá thư ông gửi con trai chia sẻ những bài học từ trải nghiệm thực tế, được lan truyền vì ý nghĩa sâu sắc.

Ông Sun là Bộ trưởng Bộ kinh tế từ năm 1969 đến 1978, sau đó được bầu làm người đứng đầu chính quyền Đài Loan từ năm 1978 đến 1984. Tháng 2/1984, ông bị đột quỵ do xuất huyết não và sau khi phục hồi chỉ có thể ngồi trên xe lăn. Tháng 2/2006, ông qua đời tại Đài Bắc, hưởng thọ 92 tuổi. Ngoài các tác phẩm về kinh tế, chính trị, người ta quan tâm đến một bức thư ông để lại cho các con của mình. Lá thư giản dị, chân thành là những bài học cuộc sống ông muốn gửi gắm đến các con. Dưới đây là nội dung lá thư đầy ý nghĩa, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và lan truyền trên nhiều trang mạng xã hội, diễn đàn thời gian qua:

Con trai yêu quý,

Cuộc sống luôn có cả phước lành lẫn tai họa và không ai biết mình có thể sống được bao lâu, vì thế có những điều nói ngay bây giờ tốt hơn để sau.

Bố là bố của con và nếu bố không nói với con những điều này, sẽ không ai nói cả. Đây là những lời đúc kết của bố từ nhiều năm trải nghiệm, qua những thất bại, đắng cay trong bôn ba cuộc đời. Bố hy vọng con sẽ không lặp lại những sai lầm bố từng mắc:

thu-tuong1-9514-1404186776.jpg

Ông Sun Yun-suan và vợ lúc sinh thời. Ảnh:Mag.udn.com.

1. Trên đường đời, con sẽ gặp những người đối xử tệ với mình. Đừng để tâm. Không ai có bổn phận phải đối xử tốt với con, trừ bố mẹ. Đối với những người đối xử tử tế với con, hãy trân trọng và biết ơn. Nhưng cũng hãy đề phòng họ. Họ có thể đối tốt với con vì mục đích nào đó. Hãy tìm hiểu động cơ thực sự. Đừng vội kết luận một người là tốt chỉ đơn giản vì họ ưu ái con.

2. Không ai là không thể thay thế. Không có thứ gì trên thế giới này con phải bám chặt lấy hay cố sở hữu bằng mọi giá. Nếu con hiểu điều này, thì về sau, dù mất bất cứ điều gì trong đời, con vẫn có thể đứng vững.

3. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Đừng phí thời gian và năng lượng vào những người, việc, thứ không cần thiết. Nếu con làm vậy, sau này con sẽ nhận ra rằng con đã lãng phí tất cả những ngày tháng qua.

Nhận ra điều này càng sớm, con càng tận hưởng được cuộc sống nhiều hơn. Hãy luôn trân trọng và tận hưởng cuộc sống. Điều đó tốt hơn nhiều so với việc cố gắng kéo dài tuổi thọ.

4. Không có gì trên thế giới là mãi mãi, kể cả tình yêu. Tình cảm có thể thay đổi theo thời gian. Nếu một ngày nào đó con mất đi người con từng yêu tha thiết, hãy nhẫn nại. Đừng cố níu kéo những gì đã mất hay phóng đại cảm xúc của mình. Thời gian sẽ làm dịu nỗi đau. Thời gian sẽ hàn gắn tất cả.

5. Không phải tất cả những người thành công đều học hành đến nơi đến chốn nhưng điều này không có nghĩa là con có thể bỏ bê việc học của mình. Kiến thức con có được là tài sản lớn nhất của con.

Con có thể thay đổi từ tay trắng lên anh tài và biến không thành có. Chúng ta không thể làm được những điều này nếu không có kiến thức, kỹ năng. Hãy nhớ kỹ.

6. Bố không mong đợi con sẽ chăm lo cho bố khi bố về già. Cũng vậy, bố không có trách nhiệm phải bao bọc con khi con đã trưởng thành. Nhiệm vụ của bố được coi là đã hoàn thành khi con lớn lên và trở thành một người độc lập.

Con có thể đi xe bus hay lái xe Benz đắt tiền. Tương tự, con có thể ăn mì gói hay bào ngư. Lựa chọn đó thực sự do con.

7. Con có thể hứa hẹn với mọi người nhưng con không được phép yêu cầu họ cam kết với con. Con có thể đối xử tốt với người ta nhưng đừng hy vọng họ đáp lại con như vậy. Con đối xử với họ như thế nào không có nghĩa là họ phải đối lại với con như thế ấy. Nếu con không thể nhìn thấu điều này, về sau con sẽ chỉ có thêm nhiều đau khổ, thất vọng.

8. Rất nhiều người mua vé số suốt nhiều năm nhưng cuối cùng họ vẫn trắng tay, nghèo đói. Để thành công hay giàu có, con đều phải nỗ lực hết mình. Có một điều đơn giản cần nhớ là: Trên thế giới này không có gì miễn phí.

9. Chúng ta ở bên nhau như một gia đình chỉ trong cuộc đời này thôi, dù con thích hay không. Vì thế, hãy trân trọng và nâng niu khi chúng ta bên nhau, chia sẻ, gắn bó. Dù muốn hay không, chúng ta sẽ không thể gặp nhau ở kiếp sau.

Cuối cùng, có một lưu ý nhỏ cha muốn chia sẻ với con: Hãy đền đáp lòng tốt của cha mẹ, chăm sóc cho sức khỏe và trạng thái cân bằng của bản thân. Ăn uống điều độ, trò chuyện ôn hòa. Trẻ nhỏ cần được dạy bảo. Đau ốm cần phải chữa trị. Các mối quan hệ cần phải nuôi dưỡng, sống hướng tới sự hoàn thiện.

(Theo Tumblr.com)

Tự Sự

Posted in Tình yêu và cuộc sống on 27/06/2014 by ktstruongvancuong

30 rồi mà mãi cứ trắng tay Ta lạc bước trong muôn ngàn khổ ải Giấc mơ xưa lạc dòng không bến đổ Danh phận không bờ ngậm ngùi với gió sươngẢnh Trách cho đời hay trách với trời thương Nắng hạ thu sang đời ta vẫn thế Vẫn sớm chiều nghe tiếng lòng khe khẽ Mong ước trời cao cất cánh với chim sao. Sài gòn chiều buồn 26.06.2014

Relax. thử làm ca sỹ

Posted in Tình yêu và cuộc sống on 30/05/2014 by ktstruongvancuong

IMG_3582 IMG_3581 IMG_3580

Chiến tranh VN: Hình ảnh vô giá về cuộc sống hai bên vĩ tuyến 17

Posted in Uncategorized on 29/04/2014 by ktstruongvancuong

 

- Buổi biểu diễn quân nhạc bên bờ Bắc, người dân lấp hố bom lấy đất canh tác, biểu ngữ chống Mỹ dọc bờ sông… là những hình ảnh chân thực về cuộc sống tại vĩ tuyến 17.

Cầu Hiền Lương, bắc qua sông Bến Hải, nằm ở vĩ tuyến 17 (hay còn được gọi là khu phi quân sự DMZ), là biểu tượng cho sự chia cắt đất nước trong chiến tranh chống Mỹ.

Đây là giới tuyến quân sự tạm thời được lập ra theo Hiệp định Geneva năm 1954, phân cách giữa hai miền Nam – Bắc Việt Nam. Bờ phía Bắc của cầu là khu vực tập trung quân sự của quân đội Việt Nam, bên còn lại là của quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Ban đầu, giới tuyến này chỉ có giá trị trong 2 năm cho tới cuộc tổng tuyển cử, tuy nhiên, trên thực tế, nó đã trở thành ranh giới ngăn cách đất nước trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ.

Dưới đây là một số hình ảnh về quang cảnh và cuộc sống tại khu vực giới tuyến này.

Toàn cảnh cầu Hiền Lương và sông Bến Hải chụp từ bờ bắc vào tháng 9/1959.
Toàn cảnh cầu Hiền Lương và sông Bến Hải chụp từ bờ bắc vào tháng 9/1959.
Cổng chào được xây bằng bê tông kiên cố bên phía bờ Bắc.

Cổng chào kiên cố bên phía bờ Bắc

Đoàn Quân nhạc biểu diễn ở bờ bắc cầu Hiền Lương. Ảnh chụp ngày 20/7/1964.

Đoàn Quân nhạc biểu diễn ở bờ bắc cầu Hiền Lương. Ảnh chụp ngày 20/7/1964.

Đàn trâu tha thẩn bên bờ Bắc

Đàn trâu nhởn nha bên bờ Bắc

1966

Một công trình của quân đội Việt Nam nằm sát phía bờ Bắc. Ảnh chụp năm 1966

Người dân bên bờ bắc sông Bến Hải đi qua một biểu ngữ bày tỏ khát khao và quyết tâm thống nhất đất nước, nối liền 2 miền Nam- Bắc đang bị chia cắt.

Người dân bên bờ bắc sông Bến Hải đi qua một biểu ngữ thể hiện sự tin tưởng và quyết tâm thống nhất đất nước, nối liền 2 miền Nam-Bắc đang bị chia cắt.

Những biểu ngữ này này đối trọi với hàng loạt các biểu ngữ kêu gọi ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm, bôi nhọ miền Bắc được lực lượng thân Mỹ dựng lên ở bờ bên kia giới tuyến.

Một biểu ngữ khác nằm sát bờ bắc sông Bến Hải, đằng sau là ruộng đồng của người dân.

Một biểu ngữ bày tỏ sự căm phẫn đối với Đế quốc Mỹ xâm lược.

Một biểu ngữ bày tỏ sự căm phẫn đối với Đế quốc Mỹ xâm lược, chia cắt đất nước.

Những người dân tại một ngôi làng gần vĩ tuyến 17 lấp đầy các hố bom để lấy đất canh tác.

Những người dân tại một ngôi làng gần vĩ tuyến 17 lấp đầy các hố bom để lấy đất canh tác. Ảnh chụp cuối những năm 1960.

Lực lượng Việt Nam Cộng hòa nhiều lần tìm cách dựng cột cờ của mình cao hơn cột cờ của quân đội Việt Nam nhưng không thành. Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam luôn tung bay trên bầu trời một cách hiên ngang, bất chấp kẻ thù 5 lần 7 lượt tìm cách bắn phá.

Lực lượng Việt Nam Cộng hòa nhiều lần tìm cách dựng cột cờ của mình cao hơn cột cờ của quân đội Việt Nam nhưng không thành. Lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam luôn tung bay trên bầu trời một cách hiên ngang, bất chấp kẻ thù 5 lần 7 lượt tìm cách bắn phá.

 

Những người lính của 2 bên đứng canh gác trên cầu Hiền Lương, cách nhau bởi một vạch sơn trắng, rộng chừng 1cm, ở giữa cầu, dùng làm ranh giới.

Lực lượng của 2 bên đứng canh gác trên cầu Hiền Lương, cách nhau bởi một vạch sơn trắng, rộng chừng 1cm, ở giữa cầu, dùng làm ranh giới.

Lực lượng canh gác, tuần tra của Việt Nam Cộng hòa ở bờ Nam. Ảnh chụp năm 1966.

Lực lượng canh gác, tuần tra của Việt Nam Cộng hòa ở bờ Nam. Ảnh chụp năm 1966.

Đoàn xe của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế trong một lần giám sát khu vực DMZ. Ảnh chụp tháng 2/1965. Theo hiệp định Geneva, tổ chức này được giao nhiệm vụ theo dõi nhằm đảm bảo không có bất cứ động thái quân sự nào từ một trong 2 phía xảy ra tại khu DMZ này.

Đoàn xe của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế trong một lần đi tuần tra cầu Hiền Lương. Ảnh chụp tháng 2/1965 từ phía bờ Nam. Theo hiệp định Geneva, tổ chức này được giao nhiệm vụ theo dõi nhằm đảm bảo không có bất cứ động thái quân sự nào từ một trong 2 phía xảy ra tại khu DMZ này.

Loa phóng thanh chửi nhau giữa hai miền Nam-Bắc tại sông Bến Hải, nơi Vĩ tuyến 17 chia đôi đất nước từ ngày 20-7-1954 đến 30-4-1975. Ảnh chụp tháng 3/1965.

Một trong những cụm loa phóng thanh đặt dọc bờ sông Bến Hải. Ảnh chụp năm 1965.

Con đường dẫn ra cầu Hiền Lương. Ảnh chụp năm 1966.

Con đường dẫn ra cầu Hiền Lương. Ảnh chụp năm 1966.

Binh sĩ VNCH ra tăng cường phòng thủ vùng giới tuyến

Bên phía Việt Nam Cộng tăng cường một lượng lớn binh lính đến khu vực vĩ tuyến. Ảnh chụp năm 1966.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng vũ khí hạng nặng tập kết gần khu DMZ, nhiều lần khiêu khích tại giới tuyến.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng vũ khí hạng nặng tập kết gần khu DMZ, nhiều lần khiêu khích tại giới tuyến.

Trại lính miền Nam gần vùng giới tuyến thuộc tỉnh Quảng Trị. 1966

Một trại lính VNCH nằm ở phía bờ Nam, gần giới tuyến. Ảnh chụp năm 1966.

-st-

Bài viết mình đăng trên báo VIETNAMNET “Phong thủy là gì”

Posted in Uncategorized on 07/04/2014 by ktstruongvancuong

Bài này mình viết sau khi đọc những tâm sự của những người dân, phân vân bối rối về Phong Thủy. bài viết được VIETNAMNET đăng tải trong mục VLAND đời sống các bạn giành chút thời gian đọc cho vui..http://batdongsan.vietnamnet.vn/fms/noi-that-nha-viet/99064/phong-thuy-la-gi-.html

Qua rồi dĩ vãng em tôi.

Posted in Uncategorized on 24/03/2014 by ktstruongvancuong

A biết em buồn vì những chuyện đã qua

A phải làm sao để em không buồn nữa

Những câu chuyện xưa thôi, hãy đóng cửa

Để ánh trăng gầy thôi thổn thức đêm mưa

sunshine1

Gió ngoài hiên vẫn rì rào lưa thư

a

Để tim buồn ôm nỗi lòng trăng trở

Gío miên man cứ cồn cào trong hơi thở

Để mây buồn ,hờn gió thẩn thờ trôi

Nắng hãy về để sưởi ấm em tôi

Mưa hãy xua tan những lớp bụi trần , em tôi vướng

Hãy tắm em tôi bằng ánh hòa quang rực rỡ.

Cho tôi không còn ngồi đếm những giọt mưa rơi..

Tặng người em.

Tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt Nam

Posted in Lịch sử on 27/02/2014 by ktstruongvancuong

download

*  Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc
*  Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân.  Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời.

Tổng quát

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cổ, có thể đã xuất hiện rất sớm (theo truyền thuyết, vua Kinh Dương Vương trị vì từ năm 2879 trước TL, như vậy đã có dân sinh sống trước thời gian này). Việt Nam là một nước thống nhất, mặc dù có những cuộc nội chiến chia cắt đất nước thành những vùng tranh chấp (nhưng người Việt Nam không hề coi những vùng phân chia tranh chấp này là những “nước” riêng biệt), như thời nhà Ngô (939-965) chuyển sang đời nhà Đinh (968-980) có loạn 12 sứ quân, chia nước thành 12 vùng tranh chấp (945-967), thời Trịnh Mạc phân tranh (hay Nam Bắc Triều – 1527-1592) các vùng tranh chấp thay đổi. Năm 1627 họ Trịnh và họ Nguyễn phân tranh, chia ra Đàng Trong và Đàng Ngoài (lấy sông Gianh làm ranh giới) và sau chót  thời chiến tranh Nam Bắc (1954-1975) lấy sông Bến Hải làm ranh giới.

Nước Việt Nam tuy có nhiều sắc dân sinh sống (54 sắc dân), nhưng dân tộc Việt (người Kinh) chiếm đa số (87%), 53 sắc dân còn lại chỉ là dân tộc thiểu số (13%).
Tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, chính là sự tìm hiểu về gốc tích của dân tộc Việt chiếm đa số này.

Dân tộc Lạc Việt và Âu Việt: Theo Hậu Hán Thư, Địa lý chí, chép rằng: ” Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên bảy tám nghìn dặm, người Bách Việt  ở xen nhau, đều có chủng tính” (có phong tục tập quán riêng khác với người Hán). Sách Lộ Sử của La Tất đời Tống đã kê khai một số tộc Việt, trong đó có Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt…trong nhóm Bách Việt (Đào Duy Anh – Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời – in 2005 – tr. 20 – 21). Theo Lê Tắc trong “An Nam Chí Lược – in 2002 – tr. 70″ thì những người Giao Chỉ và người Bách Việt có tục vẽ mình, bơi lội và chèo đò giỏi, để đầu trần, đi chân đất, ngồi xếp bằng tròn hoặc ngồi xổm, ưa ăn dưa mắm, tiếp khách thì đãi trầu cau (con trai vẽ mình, con gái nhuộm răng đen, mặc váy, áo tả nhậm)…Những phong tục này khác hẳn với phong tục người Hán (gọi chung là người Tàu = Chinese).

Theo Nguyễn Hiến Lê (Sử Trung Quốc – in 2003 – tr. 32 – 33), nước Tàu xưa kia chia làm 2 miền khí hậu khác nhau: Miền Bắc từ sông Dương Tử về phía Bắc (các nước Tần, Tấn, Tề, Vệ, Lỗ, Tống), khí hậu lạnh lẽo, đất khô cằn, nhiều đồng cỏ, dân sống về du mục (chăn bò, cửu, dê, trồng lúa mì, kê và nông phẩm chịu khô hạn). Miền Nam từ sông Dương Tử về phía Nam (Giang Nam, Lĩnh Nam…gồm các nước Sở, Ngô, Việt … Bách Việt, Lạc Việt, Âu Việt…), khí hậu ấm áp (càng về phía Nam càng nóng và ẩm), cây cối xanh tốt, nhiều núi đồi, song rạch, mưa nhiều nên dân ở đây trồng lúa nước, đánh cá và nuôi gia súc… Do khí hậu và phong thổ khác nhau, cách ăn mặc khác nhau (y phục khác nhau), phong tục tập quán người Việt và người Tàu cũng khác nhau. Do vậy, những thuyết cho rằng nguồn gốc người Việt là do người Tàu di cư xuống miền Nam mà thành là không có căn cứ.

Theo truyền thuyết, vua Hùng thứ nhất lập ra nước Văn Lang chia làm 15 bộ, gồm có dân tộc Lạc Việt là chính, đóng đô ở Phong Châu (nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên), tướng Văn là Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai là Quan Lang, con gái là Mị Nương, các quan nhỏ là Bồ Chính. Quyền chính trị cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua Hùng truyền đến đời Hùng Vương thứ 18 thì bị Thục Phán đánh bại. Thục Phán lên làm vua xưng là An Dương Vương (257-207 tr. TL), đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê ( nay là tỉnh Phúc An), xây thành Cổ Loa, trị vì được 50 năm thì mất nước.

Như vậy Lạc Việt là dân tộc Việt Nam thời thượng cổ.

Nguồn gốc người Việt Nam

Theo Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược – in 1971 – tr. 5) nói về gốc tích người Việt Nam, đã nêu lên ý kiến của những nhà nghiên cứu người Pháp, cho rằng người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà xuống phía đông nam lập ra nước Việt Nam và người Thái theo sông Mê Kông xuống lập ra nước Tiêm La (Thái Lan).  Một thuyết khác cho rằng ngày xưa nước Tàu có giống Tam Miêu ở. Sau giống Hán tộc (người Tàu bây giờ) ở phía tây bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà, lập ra nước Tàu. Người Tam Miêu phải lẩn núp vào rừng hay xuống miền Việt Nam bây giờ.Cả hai giả thuyết này đều không nêu ra được chứng cớ rõ rệt nên không thể thuyết phục. Chính học giả Trần Trọng Kim cũng đã bác bỏ 2 giả thuyết này.

Ta thử xét qua 3 giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt theo sách “Địa Lý VN”  của tác giả Nguyễn Khắc Ngữ & Phạm Đình Tiếu (in trước 1975 – tr. 118-121):

1- Thuyết Con Rồng Cháu Tiên :

Truyền thuyết kể rằng Đế Minh là cháu 3 đời vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam, lấy bà Vụ Tiên (giống Tiên) sinh ra Lộc Tục được làm vua phương Nam, tức Kinh Dương Vương (Đế Nghi là con trưởng làm vua phương Bắc). Vua Kinh Dương Vương lấy bà Long Nữ (giống Rồng), con gái chúa Động Đình Hồ, sinh ra Sùng Lãm tức Lạc Long Quân (là con Rồng, cháu Tiên  –  theo họ mẹ và bà ngoại, vì thời đó theo chế độ mẫu hệ). Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một trăm con, 50 con theo mẹ lên rừng (phía Quảng Tây và Bắc Việt Nam ngày nay), 50 con xuống biển Nam Hải (tức vùng Quảng Đông – kinh đô là Phiên Ngung).

Nhận định về thuyết này ta thấy có nhiều điểm mang tính thần thoại, nhất là về thời gian không rõ rệt. Hơn nữa, thuyết này nói rất mơ hồ về tình trạng Đế Nghi làm vua phương Bắc là vua những nước nào? Có phải nước Tàu ngày nay không? Hay chỉ làm vua ở phía Nam sông Dương Tử của nước Tàu thời bấy giờ (như nước Sở, Ngô, Việt?) nhưng là phương Bắc đối với Động Đình Hồ? Lại nữa, cháu ba đời vua Thần Nông là Thần Nông nào? Truyền thuyết Trung Hoa cũng nhận Thần Nông là những ông vua đầu tiên của họ, tức Tam Hoàng, Ngũ Đế? Thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” chỉ nói về nguồn gốc các vị vua đầu tiên của nước Việt cổ (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, các vị vua Hùng), mà không đề cập đến nguồn gốc dân tộc Việt (Lạc Việt). Làm vua một nước đương nhiên phải có dân.
Mặc dù vậy, về một vài địa danh như Động Đình Hồ, Ngũ Lĩnh, Nam Hải…là có thật.

2- Thuyết Bách Việt :

Do học giả người Pháp (ông Aurrousseau) nêu ra, cho rằng người Việt là con cháu của nước Việt (nước Việt – Câu Tiễn) miền Chiết Giang bên Tàu, từ thế kỷ thứ VI tr. CN. Đến thế kỷ thứ V, Việt Vương Câu Tiễn mở rộng đất đai về phía Bắc đến tận Giang Tô và Sơn Đông. Sau Câu Tiễn mất, con cháu không giữ được đất, đến thế kỷ thứ IV thì phải rút về đất cũ ở Chiết Giang. Năm 333 tr. CN, nước Việt bị nước Sở chiếm, người Việt phải bỏ chạy về phía Nam, tập hợp thành nhiều bộ lạc, gọi là Bách Việt. Nhận định về thuyết này, việc thành lập giống dân Bách Việt được giải thích khá hợp lý. Tuy nhiên không giải thích được tình trạng dân cư đã có sẵn ở Quảng Đông, Quảng Tây (đất Bách Việt) và Bắc Việt Nam trước khi giống Việt (của nước Việt Câu Tiễn) tràn xuống phía Nam.

3- Thuyết thứ 3 căn cứ vào “Nhân chủng học”:

a- Đào sâu dưới đất ở Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Sơn –  kiếm thấy sọ người rồi mang so sánh, thấy ở lớp sâu nhất là sọ các giống da đen (Négritos), Mélanésiens, và Úc – Australlens.

b- Đào lớp đất thứ nhì, ít sâu hơn thấy sọ các sắc dân di cư đến gồm dân Indonésiens.

c- Loại thứ ba gồm giống đến sau nữa là giống Mông Cổ.

d- Loại thứ tư là là sọ lai các giống nói trên.

Ngoài ra, xét về ngôn ngữ, tiếng Việt đơn âm, giống tiếng Mường, Thượng Tây Nguyên, Chàm và Indonesiens.

Về văn minh (vẽ mình, nhuộm răng, theo chế độ mẫu hệ)  là nền văn minh Hải Đảo từ Mã Đảo (Madagascar) đến miền Bắc Nhật Bản.

Thuyết này kết luận, giống dân đầu tiên trên dải đất ta (?) là giống da đen Négritos, Mélanésiens và Úc. Sau đó có giống Indonésiens ở phía Nam tiến lên và giống Mông Cổ từ phía Bắc tràn xuống. “Các sắc dân này đồng hóa với nhau tạo thành giống Việt Nam chúng ta ngày nay” (?).

Nhận định về thuyết này, theo thiển ý thấy có vẻ khoa học và đáng tin cậy. Tuy nhiên, việc khảo cứu (đào đất tìm sọ) chỉ giới hạn ở một số địa điểm (như ở các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Sơn – đa số ở vùng cao – rồi mang suy diễn ra cho toàn vùng Bắc và Trung Việt ngày nay, e rằng còn nhiều thiếu sót? Hơn nữa, chỉ đào sới ở đất Bắc Việt rồi mặc nhiên kết luận đó là nước ta (?) thời thượng cổ, có vẻ khiên cưỡng chăng? Ta sẽ tự hỏi, thế còn vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây thì sao?  Theo cổ sử và sách địa lý Trung Quốc  đều xác nhận vùng này thời thượng cổ đã có giống Việt ở, mang cùng chủng tính (vẽ mình, nhuộm răng, ăn trầu…), khác với giống dân phương Bắc nước Tàu sinh sống rồi? Tại các Hải Đảo như Mã Đảo Madagascar) có cuộc đào sới tìm sọ người và nghiên cứu tương tự hay không? Biết đâu dân ở Hải Đảo chính là dân ở đất liền (vùng Nam Hải – Quảng Đông hoặc Bắc Việt) đã đến đó ở từ trước, sau đó mới trở lại đất liền?  Như vậy việc nghiên cứu cần phải được thực hiện rộng rãi hơn nữa, chưa thể vội kết luận người Việt Nam là một giống “tạp chủng” (lai tùm lum từ nhiều sắc dân đến cư ngụ, kể cả da đen, Mông Cổ, Indonésien, Úc…).

Kết luận

Đã đành, dân tộc nước nào cũng không thể tránh được sự giao giống nhiều đời của nhiều dân tộc khác nhau sống chung trên cùng một mảnh đất. Nói cách khác, hiếm có dân tộc nào thuần chủng đến 100% cả? Tuy nhiên, từ thời thượng cổ, mỗi giống dân đều có một số đặc điểm phân biệt với dân tộc khác, nghĩa là có một chủng tính cá biệt của dân tộc. Thí dụ người Việt Nam ngày nay rất hãnh diện về một số đặc điểm như tinh thần bất khuất chống ngoại xâm, có tiếng nói riêng và phong tục tập quán riêng, không thể lẫn lộn với người Tàu, người da đen, người Úc Châu, Mông Cổ  hay bất cứ sắc dân nào trên thế giới. Người Việt Nam là … người Việt Nam thuộc giống Lạc Việt, nhận Tiên Rồng là những hình ảnh oai hùng cao đẹp của những vị vua đầu tiên (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, mười tám đời vua Hùng). Nhân đây cũng xin nói thêm ý nghĩa “Con Rồng Cháu Tiên” không có nghĩa là các vị vua Lạc Long Quân hay bà Âu Cơ trực tiếp sinh ra dân tộc Việt Nam, tương tự chúng ta vẫn thường nhận là “con cháu Bà Trưng, Bà Triệu”. Đó chỉ là những vị vua đầu tiên, đã dẫn dắt dân tộc Lạc Việt tức dân tộc Việt Nam ngày nay đến chỗ quang vinh, không bị người Tàu đồng hóa như nhiều dân tộc khác.

Tổ Tiên chúng ta thật oai hùng, bất khuất, mặc dù phải sống tiếp cận với nhà cầm quyền “Đại Hán” hàng ngàn năm và bị cai trị hàng ngàn năm khác bởi các Triều đình Phong Kiến phương Bắc đầy tham vọng “bá quyền” và tham lam tàn ác như ta thấy trong lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay, nhưng các Ngài vẫn dẫn dắt dân tộc Việt đứng vững riêng một cõi phương Nam, không bị đồng hóa thành người Tàu. Đó là niềm hãnh diện và biết ơn sâu xa của  chúng ta vậy.

 -st-

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 298 other followers