Những công trình tiêu biểu năm 2012-2013

Posted in Kiến trúc on 02/07/2013 by ktstruongvancuong

NHÀ PHỐ:

Nhà Anh Kiểm (Đồng xoài) Tân Bình đã hoàn thành.

MDCHINH2 copy

PC CHIM BAY 2

Nhà Anh Tô Xuân Ân Q12

30PCTT MN  copy

Nhà Anh Hùng (Bình Thạnh)

MAT DUNG CHINHMBTT

Phương án chọn

mdung truoc copy

PCTT copy

Nhà Anh Danh Q.Gò Vấp

md truoc

Nhà Anh Tuấn (Tân Sơn.)

PHUONG AN 1A

Phương án 1

PHUONG AN 2

Phương án 2

Cải tạo nhà chị Hoà. ( giữ đường viền)

MB LAU2 copyMB LAU 3 copyMB LAU 4 copy PC CHIM BAY MD CHINH copy MD TRUOCNOI THAT TONG THE VIEW2w

 

NOI THAT TONG THE VIEW1wNOI THAT PHONG KHACH w
NT PHONG ANwMAT BANG TONG THE LAU 3(1)

NOI THAT PHONG BO ME1

 

NOI THAT PHONG BO ME2VE SINH BO ME
MB TANG THUONG (1)

KHÁCH SẠN:

Khách sạn Cam Ranh

MDTRUOCPC CHIM BAY

NHÀ HÀNG DAKMIL

NHA HANG DAKMIN

DỊCH VỤ CAFE: 

CaFe dã ngoại Lý Sơn:

IN MAT BANG TONG THE

Khu CaFe  DAKMIL

TT1 ÖEBMD1web

CHUNG C Ư:

Khu chung cư 105 Tây Sơn.Bình Định

1v

2v3vCHI TIETv

Khu Cafe sân vườn Tây Nguyên ( DakMil)

Posted in Kiến trúc on 06/06/2012 by ktstruongvancuong

Những công trình tiêu biểu mình đã thiết kế( The projects designed by me)

Posted in Kiến trúc on 22/10/2010 by ktstruongvancuong

I.Biệt thự:

1.Biệt thự nhà Anh Hạnh Củ Chi.

Mặt đứng trước

Mặt đứng bên

Phối cảnh tổng thể

2.Biệt thự Anh Hùng Đà Nẵng.

Phối cảnh góc

3.Biệt thự Hoàng Anh HCM


Phối cảnh góc

4.Biệt thự Bà Nguyễn Chị Ngọc Cẩm HCM

Phối cảnh góc

4.Biệt thự Anh Ân, Q12, TP.HCM

2

II.Nhà phố:

Phối cảnh nhà bạn Hạnh

Phối cảnh nhà A Hùng(Bùi ĐìnhTuý)


Văn phòng, nhà ở Anh Tuấn PA1(BìnhThạnh)

Phương án chọn (HT 2010)

III.Chung cư:

1.Khu phức hợp Âu Cơ (2010):

Phối cảnh tổng thểPhối cảnh gócMặt đứng đường Âu CơMặt đứng kênh tân hòaPhối cảnh chi tiết góc 1Chi tiết góc 2

2.Chung cư Bình Phu 2


Phối cảnh góc

Mặt bên

Phối cảnh chim bay

Chi tiết góc

3.Chung cư Tân tạo lôA 2009 ( Tòa nhà Long Phụng chủ đầu tư Thái Sơn):

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh mặt đứng sau

4.Chung cư Tân tạo lô B

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh về đêm

5.Phương àn Chung cư ATIC 2011.(HTP, Q7)

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

M.đứng trước đường Huỳnh Tấn Phát

Mặt Bên

Phối cảnh tổng thể

6. Chung cư PPI 09/2011.(TX Thuận An, Bình Dương)

+ Phương án 1

Phối Cảnh tổng thể (PA 1)

Mặt Đứng tổng thể (PA 1)

Tổ chức không gian mặt bằng tổngthể (PA 1)

+ Phương án 2 (PA. Chọn dự kiến năm khởi công 2012)

Mặt Đứng Trước

Tổ chức không gian mặt bằng tổngthể

Mặt Bằng căn hộ điển hình

IV.Văn phòng :

1.Văn phòng Eximbank Quận 7

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

2.Văn phòng Xây lắp 6 Quận Bình Thạnh.

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

3.Văn phòng Eximbank 78 Trần Quang Khải Q1.

Phối cảnh góc

Phối cảnh mặt đứng trước

4.Toà nhà (Trụ sở Báo Sài GònGiải Phóng)

Toà nhà này công ty mình nhận thiết kế kỹ thuật và thi công.

Phối cảnh mặt đứng trước

Phối cảnh góc

Bài viết mình đăng trên báo VIETNAMNET “Phong thủy là gì”

Posted in Uncategorized on 07/04/2014 by ktstruongvancuong

Bài này mình viết sau khi đọc những tâm sự của những người dân, phân vân bối rối về Phong Thủy. bài viết được VIETNAMNET đăng tải trong mục VLAND đời sống các bạn giành chút thời gian đọc cho vui..http://batdongsan.vietnamnet.vn/fms/noi-that-nha-viet/99064/phong-thuy-la-gi-.html

Qua rồi dĩ vãng em tôi.

Posted in Uncategorized on 24/03/2014 by ktstruongvancuong

A biết em buồn vì những chuyện đã qua

A phải làm sao để em không buồn nữa

Những câu chuyện xưa thôi, hãy đóng cửa

Để ánh trăng gầy thôi thổn thức đêm mưa

sunshine1

Gió ngoài hiên vẫn rì rào lưa thư

a

Để tim buồn ôm nỗi lòng trăng trở

Gío miên man cứ cồn cào trong hơi thở

Để mây buồn ,hờn gió thẩn thờ trôi

Nắng hãy về để sưởi ấm em tôi

Mưa hãy xua tan những lớp bụi trần , em tôi vướng

Hãy tắm em tôi bằng ánh hòa quang rực rỡ.

Cho tôi không còn ngồi đếm những giọt mưa rơi..

Tặng người em.

Tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt Nam

Posted in Lịch sử on 27/02/2014 by ktstruongvancuong

download

*  Người Việt cổ phương Nam có chủng tính riêng, khác với người Hán phương Bắc
*  Đất nước Việt Nam thống nhất, bất khả phân.  Dân tộc Việt Nam đa số thuần nhất về tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán và cùng tự hào về một nền văn hiến rực rỡ lâu đời.

Tổng quát

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cổ, có thể đã xuất hiện rất sớm (theo truyền thuyết, vua Kinh Dương Vương trị vì từ năm 2879 trước TL, như vậy đã có dân sinh sống trước thời gian này). Việt Nam là một nước thống nhất, mặc dù có những cuộc nội chiến chia cắt đất nước thành những vùng tranh chấp (nhưng người Việt Nam không hề coi những vùng phân chia tranh chấp này là những “nước” riêng biệt), như thời nhà Ngô (939-965) chuyển sang đời nhà Đinh (968-980) có loạn 12 sứ quân, chia nước thành 12 vùng tranh chấp (945-967), thời Trịnh Mạc phân tranh (hay Nam Bắc Triều – 1527-1592) các vùng tranh chấp thay đổi. Năm 1627 họ Trịnh và họ Nguyễn phân tranh, chia ra Đàng Trong và Đàng Ngoài (lấy sông Gianh làm ranh giới) và sau chót  thời chiến tranh Nam Bắc (1954-1975) lấy sông Bến Hải làm ranh giới.

Nước Việt Nam tuy có nhiều sắc dân sinh sống (54 sắc dân), nhưng dân tộc Việt (người Kinh) chiếm đa số (87%), 53 sắc dân còn lại chỉ là dân tộc thiểu số (13%).
Tìm hiểu về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, chính là sự tìm hiểu về gốc tích của dân tộc Việt chiếm đa số này.

Dân tộc Lạc Việt và Âu Việt: Theo Hậu Hán Thư, Địa lý chí, chép rằng: ” Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên bảy tám nghìn dặm, người Bách Việt  ở xen nhau, đều có chủng tính” (có phong tục tập quán riêng khác với người Hán). Sách Lộ Sử của La Tất đời Tống đã kê khai một số tộc Việt, trong đó có Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt…trong nhóm Bách Việt (Đào Duy Anh – Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời – in 2005 – tr. 20 – 21). Theo Lê Tắc trong “An Nam Chí Lược – in 2002 – tr. 70″ thì những người Giao Chỉ và người Bách Việt có tục vẽ mình, bơi lội và chèo đò giỏi, để đầu trần, đi chân đất, ngồi xếp bằng tròn hoặc ngồi xổm, ưa ăn dưa mắm, tiếp khách thì đãi trầu cau (con trai vẽ mình, con gái nhuộm răng đen, mặc váy, áo tả nhậm)…Những phong tục này khác hẳn với phong tục người Hán (gọi chung là người Tàu = Chinese).

Theo Nguyễn Hiến Lê (Sử Trung Quốc – in 2003 – tr. 32 – 33), nước Tàu xưa kia chia làm 2 miền khí hậu khác nhau: Miền Bắc từ sông Dương Tử về phía Bắc (các nước Tần, Tấn, Tề, Vệ, Lỗ, Tống), khí hậu lạnh lẽo, đất khô cằn, nhiều đồng cỏ, dân sống về du mục (chăn bò, cửu, dê, trồng lúa mì, kê và nông phẩm chịu khô hạn). Miền Nam từ sông Dương Tử về phía Nam (Giang Nam, Lĩnh Nam…gồm các nước Sở, Ngô, Việt … Bách Việt, Lạc Việt, Âu Việt…), khí hậu ấm áp (càng về phía Nam càng nóng và ẩm), cây cối xanh tốt, nhiều núi đồi, song rạch, mưa nhiều nên dân ở đây trồng lúa nước, đánh cá và nuôi gia súc… Do khí hậu và phong thổ khác nhau, cách ăn mặc khác nhau (y phục khác nhau), phong tục tập quán người Việt và người Tàu cũng khác nhau. Do vậy, những thuyết cho rằng nguồn gốc người Việt là do người Tàu di cư xuống miền Nam mà thành là không có căn cứ.

Theo truyền thuyết, vua Hùng thứ nhất lập ra nước Văn Lang chia làm 15 bộ, gồm có dân tộc Lạc Việt là chính, đóng đô ở Phong Châu (nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên), tướng Văn là Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai là Quan Lang, con gái là Mị Nương, các quan nhỏ là Bồ Chính. Quyền chính trị cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua Hùng truyền đến đời Hùng Vương thứ 18 thì bị Thục Phán đánh bại. Thục Phán lên làm vua xưng là An Dương Vương (257-207 tr. TL), đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê ( nay là tỉnh Phúc An), xây thành Cổ Loa, trị vì được 50 năm thì mất nước.

Như vậy Lạc Việt là dân tộc Việt Nam thời thượng cổ.

Nguồn gốc người Việt Nam

Theo Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược – in 1971 – tr. 5) nói về gốc tích người Việt Nam, đã nêu lên ý kiến của những nhà nghiên cứu người Pháp, cho rằng người Việt Nam và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà xuống phía đông nam lập ra nước Việt Nam và người Thái theo sông Mê Kông xuống lập ra nước Tiêm La (Thái Lan).  Một thuyết khác cho rằng ngày xưa nước Tàu có giống Tam Miêu ở. Sau giống Hán tộc (người Tàu bây giờ) ở phía tây bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi, chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà, lập ra nước Tàu. Người Tam Miêu phải lẩn núp vào rừng hay xuống miền Việt Nam bây giờ.Cả hai giả thuyết này đều không nêu ra được chứng cớ rõ rệt nên không thể thuyết phục. Chính học giả Trần Trọng Kim cũng đã bác bỏ 2 giả thuyết này.

Ta thử xét qua 3 giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt theo sách “Địa Lý VN”  của tác giả Nguyễn Khắc Ngữ & Phạm Đình Tiếu (in trước 1975 – tr. 118-121):

1- Thuyết Con Rồng Cháu Tiên :

Truyền thuyết kể rằng Đế Minh là cháu 3 đời vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam, lấy bà Vụ Tiên (giống Tiên) sinh ra Lộc Tục được làm vua phương Nam, tức Kinh Dương Vương (Đế Nghi là con trưởng làm vua phương Bắc). Vua Kinh Dương Vương lấy bà Long Nữ (giống Rồng), con gái chúa Động Đình Hồ, sinh ra Sùng Lãm tức Lạc Long Quân (là con Rồng, cháu Tiên  -  theo họ mẹ và bà ngoại, vì thời đó theo chế độ mẫu hệ). Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một trăm con, 50 con theo mẹ lên rừng (phía Quảng Tây và Bắc Việt Nam ngày nay), 50 con xuống biển Nam Hải (tức vùng Quảng Đông – kinh đô là Phiên Ngung).

Nhận định về thuyết này ta thấy có nhiều điểm mang tính thần thoại, nhất là về thời gian không rõ rệt. Hơn nữa, thuyết này nói rất mơ hồ về tình trạng Đế Nghi làm vua phương Bắc là vua những nước nào? Có phải nước Tàu ngày nay không? Hay chỉ làm vua ở phía Nam sông Dương Tử của nước Tàu thời bấy giờ (như nước Sở, Ngô, Việt?) nhưng là phương Bắc đối với Động Đình Hồ? Lại nữa, cháu ba đời vua Thần Nông là Thần Nông nào? Truyền thuyết Trung Hoa cũng nhận Thần Nông là những ông vua đầu tiên của họ, tức Tam Hoàng, Ngũ Đế? Thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” chỉ nói về nguồn gốc các vị vua đầu tiên của nước Việt cổ (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, các vị vua Hùng), mà không đề cập đến nguồn gốc dân tộc Việt (Lạc Việt). Làm vua một nước đương nhiên phải có dân.
Mặc dù vậy, về một vài địa danh như Động Đình Hồ, Ngũ Lĩnh, Nam Hải…là có thật.

2- Thuyết Bách Việt :

Do học giả người Pháp (ông Aurrousseau) nêu ra, cho rằng người Việt là con cháu của nước Việt (nước Việt – Câu Tiễn) miền Chiết Giang bên Tàu, từ thế kỷ thứ VI tr. CN. Đến thế kỷ thứ V, Việt Vương Câu Tiễn mở rộng đất đai về phía Bắc đến tận Giang Tô và Sơn Đông. Sau Câu Tiễn mất, con cháu không giữ được đất, đến thế kỷ thứ IV thì phải rút về đất cũ ở Chiết Giang. Năm 333 tr. CN, nước Việt bị nước Sở chiếm, người Việt phải bỏ chạy về phía Nam, tập hợp thành nhiều bộ lạc, gọi là Bách Việt. Nhận định về thuyết này, việc thành lập giống dân Bách Việt được giải thích khá hợp lý. Tuy nhiên không giải thích được tình trạng dân cư đã có sẵn ở Quảng Đông, Quảng Tây (đất Bách Việt) và Bắc Việt Nam trước khi giống Việt (của nước Việt Câu Tiễn) tràn xuống phía Nam.

3- Thuyết thứ 3 căn cứ vào “Nhân chủng học”:

a- Đào sâu dưới đất ở Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Sơn -  kiếm thấy sọ người rồi mang so sánh, thấy ở lớp sâu nhất là sọ các giống da đen (Négritos), Mélanésiens, và Úc – Australlens.

b- Đào lớp đất thứ nhì, ít sâu hơn thấy sọ các sắc dân di cư đến gồm dân Indonésiens.

c- Loại thứ ba gồm giống đến sau nữa là giống Mông Cổ.

d- Loại thứ tư là là sọ lai các giống nói trên.

Ngoài ra, xét về ngôn ngữ, tiếng Việt đơn âm, giống tiếng Mường, Thượng Tây Nguyên, Chàm và Indonesiens.

Về văn minh (vẽ mình, nhuộm răng, theo chế độ mẫu hệ)  là nền văn minh Hải Đảo từ Mã Đảo (Madagascar) đến miền Bắc Nhật Bản.

Thuyết này kết luận, giống dân đầu tiên trên dải đất ta (?) là giống da đen Négritos, Mélanésiens và Úc. Sau đó có giống Indonésiens ở phía Nam tiến lên và giống Mông Cổ từ phía Bắc tràn xuống. “Các sắc dân này đồng hóa với nhau tạo thành giống Việt Nam chúng ta ngày nay” (?).

Nhận định về thuyết này, theo thiển ý thấy có vẻ khoa học và đáng tin cậy. Tuy nhiên, việc khảo cứu (đào đất tìm sọ) chỉ giới hạn ở một số địa điểm (như ở các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Sơn – đa số ở vùng cao – rồi mang suy diễn ra cho toàn vùng Bắc và Trung Việt ngày nay, e rằng còn nhiều thiếu sót? Hơn nữa, chỉ đào sới ở đất Bắc Việt rồi mặc nhiên kết luận đó là nước ta (?) thời thượng cổ, có vẻ khiên cưỡng chăng? Ta sẽ tự hỏi, thế còn vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây thì sao?  Theo cổ sử và sách địa lý Trung Quốc  đều xác nhận vùng này thời thượng cổ đã có giống Việt ở, mang cùng chủng tính (vẽ mình, nhuộm răng, ăn trầu…), khác với giống dân phương Bắc nước Tàu sinh sống rồi? Tại các Hải Đảo như Mã Đảo Madagascar) có cuộc đào sới tìm sọ người và nghiên cứu tương tự hay không? Biết đâu dân ở Hải Đảo chính là dân ở đất liền (vùng Nam Hải – Quảng Đông hoặc Bắc Việt) đã đến đó ở từ trước, sau đó mới trở lại đất liền?  Như vậy việc nghiên cứu cần phải được thực hiện rộng rãi hơn nữa, chưa thể vội kết luận người Việt Nam là một giống “tạp chủng” (lai tùm lum từ nhiều sắc dân đến cư ngụ, kể cả da đen, Mông Cổ, Indonésien, Úc…).

Kết luận

Đã đành, dân tộc nước nào cũng không thể tránh được sự giao giống nhiều đời của nhiều dân tộc khác nhau sống chung trên cùng một mảnh đất. Nói cách khác, hiếm có dân tộc nào thuần chủng đến 100% cả? Tuy nhiên, từ thời thượng cổ, mỗi giống dân đều có một số đặc điểm phân biệt với dân tộc khác, nghĩa là có một chủng tính cá biệt của dân tộc. Thí dụ người Việt Nam ngày nay rất hãnh diện về một số đặc điểm như tinh thần bất khuất chống ngoại xâm, có tiếng nói riêng và phong tục tập quán riêng, không thể lẫn lộn với người Tàu, người da đen, người Úc Châu, Mông Cổ  hay bất cứ sắc dân nào trên thế giới. Người Việt Nam là … người Việt Nam thuộc giống Lạc Việt, nhận Tiên Rồng là những hình ảnh oai hùng cao đẹp của những vị vua đầu tiên (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, mười tám đời vua Hùng). Nhân đây cũng xin nói thêm ý nghĩa “Con Rồng Cháu Tiên” không có nghĩa là các vị vua Lạc Long Quân hay bà Âu Cơ trực tiếp sinh ra dân tộc Việt Nam, tương tự chúng ta vẫn thường nhận là “con cháu Bà Trưng, Bà Triệu”. Đó chỉ là những vị vua đầu tiên, đã dẫn dắt dân tộc Lạc Việt tức dân tộc Việt Nam ngày nay đến chỗ quang vinh, không bị người Tàu đồng hóa như nhiều dân tộc khác.

Tổ Tiên chúng ta thật oai hùng, bất khuất, mặc dù phải sống tiếp cận với nhà cầm quyền “Đại Hán” hàng ngàn năm và bị cai trị hàng ngàn năm khác bởi các Triều đình Phong Kiến phương Bắc đầy tham vọng “bá quyền” và tham lam tàn ác như ta thấy trong lịch sử Việt Nam từ xưa đến nay, nhưng các Ngài vẫn dẫn dắt dân tộc Việt đứng vững riêng một cõi phương Nam, không bị đồng hóa thành người Tàu. Đó là niềm hãnh diện và biết ơn sâu xa của  chúng ta vậy.

 -st-

Tỷ phú Li Ka-Shing bày cách mua nhà, tậu xe trong 5 năm

Posted in Uncategorized on 20/02/2014 by ktstruongvancuong
Giả sử thu nhập hàng tháng của bạn là 2.000 NDT (khoảng 7 triệu đồng), người giàu nhất châu Á – Li Ka-Shing khuyên rằng hãy chia số tiền này làm 5 phần – chi tiêu hàng ngày, kết giao bạn bè, học tập, du lịch và đầu tư.

Ông trùm bất động sản Li Ka-Shing (Hong Kong, Trung Quốc) hiện là tỷ phú giàu nhất châu Á với số tài sản 29,1 tỷ USD, theo Bloomberg. Xuất thân là trẻ mồ côi, ông đã tự mày mò kinh doanh để nắm trong tay hai đế chế – Cheung Kong và Hutchison Whampoa, đồng thời tham gia nhiều lĩnh vực từ cảng biển, dầu khí, đến bán lẻ, truyền thông đến bất động sản.

Mới đây, website khởi nghiệp e27 đăng tải bài viết của Li Ka-Shing, trong đó ông chia sẻ bí quyết cải thiện cuộc sống trong 5 năm.

Giả sử thu nhập hàng tháng của bạn là 2.000 NDT (khoảng 7 triệu đồng), hãy chia số tiền này làm 5 phần. 

Khoản đầu tiên – 600 NDT – dùng để chi trả cuộc sống hàng ngày. Nếu muốn sống đơn giản, bạn chỉ có thể tiêu dưới 20 NDT mỗi ngày. Hãy ăn mì (hoặc bún, miến), một quả trứng và một cốc sữa vào buổi sáng. Trưa thì ăn snack với hoa quả thôi. Còn tối hãy tự nấu tại nhà, rồi uống sữa trước khi đi ngủ. Chi phí ăn uống cả tháng của bạn sẽ chỉ tốn khoảng 500-600 NDT. Khi còn trẻ, cơ thể của bạn sẽ không có quá nhiều vấn đề nếu sống thế này vài năm.

Li-ka-shing-3468-1392806455.jpg

Li Ka-shing khuyên rằng nên chia thu nhập hàng tháng làm 5 phần. Ảnh: Next Shark

Khoản thứ hai – 400 NDT – để kết giao bạn bè, mở rộng các mối quan hệ. Việc này rất có lợi cho bạn. Tiền điện thoại có thể mất khoảng 100 NDT mỗi tháng. Bên cạnh đó, bạn có thể đãi bạn bè 2 bữa một tháng, hết khoảng 300 NDT. Hãy chọn những người hiểu biết, giàu hơn bạn hoặc có thể giúp bạn trong công việc. Sau một năm, các mối quan hệ này sẽ mang lại những giá trị rất to lớn cho bạn. Danh tiếng, tầm ảnh hưởng và giá trị gia tăng của bạn sẽ được công nhận.

Khoản thứ ba – 300 NDT – để học tập. Mỗi tháng, hãy dành ra 50-100 NDT để mua sách. Vì bạn không có nhiều tiền, hãy cố gắng nâng cao kiến thức. Khi mua sách, hãy đọc cẩn thận và rút ra những bài học và chiến lược trong đó. Sau khi đọc, hãy tự kể lại bằng ngôn ngữ của mình, sau đó chia sẻ với người khác để nâng cao uy tín và mối quan hệ. Bạn cũng nên dành 200 NDT mỗi tháng tham gia các khóa học để bồi dưỡng kiến thức và gặp gỡ những người cùng chí hướng.

Khoản thứ 4 – 200 NDT – tiết kiệm để đi du lịch nước ngoài. Hãy tự thưởng cho mình bằng các chuyến du lịch ít nhất mỗi năm một lần để nâng cao kinh nghiệm cuộc sống. Hãy ở những nhà trọ dành cho giới trẻ (youth hostel) để tiết kiệm chi phí. Trong vài năm, bạn có thể đến nhiều quốc gia, tích lũy nhiều kinh nghiệm. Hãy dùng chúng để “sạc đầy” bản thân, giúp mình có động lực trong công việc.

Khoản cuối cùng – 500 NDT – dùng để đầu tư. Đầu tiên, cứ gửi ở ngân hàng và tích lũy dần dần, coi đó là vốn khởi nghiệp của bạn. Sau đó, bạn có thể mở công ty hay cửa hàng. Hãy bắt đầu từ quy mô nhỏ cho an toàn, đến các hãng bán buôn và tìm kiếm thứ gì khả dĩ để bán. Vì kể cả nếu thua lỗ, bạn cũng không mất nhiều tiền. Còn ngược lại, khi bắt đầu kiếm được, bạn sẽ tự tin hơn và học được cả tá kinh nghiệm mới về kinh doanh. Khi đã kiếm kha khá, bạn có thể nghĩ đến các chiến lược đầu tư dài hạn để có bệ đỡ tài chính vững chắc cho bản thân và gia đình.

Sang năm thứ hai, nếu lương của bạn vẫn là 2.000 NDT, bạn nên cảm thấy xấu hổ vì vẫn chưa phát triển được bản thân. Còn nếu lên 3.000 NDT, bạn sẽ vẫn phải làm việc thật chăm chỉ. Hãy tìm một công việc làm thêm, tốt nhất là nhân viên kinh doanh.

Việc này tương đối khó, nhưng là cách nhanh nhất giúp bạn nắm được nghệ thuật bán hàng. Tất cả các doanh nhân thành đạt đều từng là nhân viên bán hàng xuất sắc. Đây cũng là cơ hội giúp bạn gặp được những người có giá trị với mình về sau. Bên cạnh đó, bạn cũng sẽ được học cái gì nên và không nên bán. Hãy dùng sự nhạy bén về thị trường của mình làm nền tảng cho công ty tương lai.

Trong thời gian này, cố gắng mua ít quần áo và giày dép thôi. Bạn có thể thoải mái shopping khi đã giàu. Còn bây giờ, hãy tiết kiệm. Chỉ mua những món quà nho nhỏ cho những người bạn quan tâm và chia sẻ với họ về những kế hoạch, giấc mơ của bạn.

Hãy cố gắng làm thêm bất kỳ lúc nào có cơ hội. Việc này sẽ mài giũa ý chí và kỹ năng cho bạn, giúp bạn tiến gần mục tiêu tài chính. Đến năm thứ hai, thu nhập của bạn nên tăng lên ít nhất 5.000 NDT, tối thiểu cũng phải là 3.000 NDT. Nếu không, bạn sẽ chẳng theo kịp tốc độ lạm phát đâu.

Bất kể bạn kiếm được bao nhiêu tiền, hãy luôn nhớ chia chúng làm 5 phần. Hãy khiến bản thân mình trở nên có ích. Tăng cường đầu tư vào các mối quan hệ, kiến thức, kinh nghiệm sẽ giúp bạn cải thiện thu nhập. Khi đã có nhiều tiền, bạn sẽ lại cải thiện được chất lượng cuộc sống, có cơ hội kết bạn nhiều hơn, tham gia những khóa học chuyên sâu hơn và tiếp cận những dự án, cơ hội lớn hơn. Dần dần, bạn sẽ hiện thực hóa được giấc mơ mua nhà, ôtô và chuẩn bị tương lai tốt đẹp hơn cho con cái.

Cuộc sống, sự nghiệp và hạnh phúc hoàn toàn nằm trong tầm tay bạn. Hãy lên kế hoạch ngay từ bây giờ. Khi bạn nghèo, hãy ở nhà ít thôi và ra ngoài nhiều hơn. Còn khi đã giàu rồi, hãy làm ngược lại. Khi bạn nghèo, hãy tiêu tiền cho người khác, còn giàu rồi thì hãy chi cho mình. Đây là nghệ thuật sống.

Bên cạnh đó, khi nghèo khó, hãy đối xử tốt với mọi người, đừng tính toán. Còn khi đã giàu rồi, hãy học cách để người khác đối tốt với bạn. Khi còn nghèo, hãy quăng mình ra ngoài và để người khác tận dụng bạn thật tốt. Nhưng khi giàu có, hãy bảo vệ mình, đừng để người khác lợi dụng. Đây là điều rất ít người hiểu được.

Có một lý thuyết nổi tiếng từ Harvard thế này: Số phận của mọi người được quyết định bởi việc anh ta làm gì khi rảnh rỗi, lúc 8h-10h tối. Hãy dùng khoảng thời gian này để học tập, suy nghĩ và tham gia vào các bài giảng hay buổi thảo luận có ích. Chỉ cần kiên trì vài năm, thành công sẽ tìm đến bạn.

 -st-

Tam Hạp (Tam Hợp) – Tứ Hành Xung là gì? Nguyên tắc tính cụ thể?

Posted in Phong thuỷ on 17/02/2014 by ktstruongvancuong

Thông thường người này hạp tuổi người kia hoặc người này kỵ tuổi này người kia kỵ tuổi kia v.v… dựa trên 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi gọi là Tam Hạp và Tứ Hành Xung

Theo cách hình học thì nếu như đem 12 con giáp này chia đều nhau trên một hình tròn thứ tự như dưới thì tà sẽ có 4 tam giác cân và 3 hình chữ thập:

Ảnh 

Trong đó 4 tam giác cân được tượng trưng cho 4 bộ Tam-Hạp: các tuổi cách nhau 4, 8, 12, 16, 20, … tuổi

* Tỵ – Dậu – Sửu (tạo thành Kim cuộc)
* Thân – Tý – Thìn (tạo thành Thủy cuộc)
* Dần – Ngọ – Tuất
* Hợi – Mẹo – Mùi (tạo thành Mộc cuộc)

Và 3 hình chữ thập tượng trưng cho 3 bộ Tứ-Hành-Xung: các tuổi cách nhau 3, 6, 9, 12, 15, 18, 21 …. tuổi

* Dần – Thân – Tỵ – Hợi
* Thìn – Tuất – Sửu – Mùi
* Tý – Ngọ – Mẹo – Dậu

Mỗi cụm tứ xung , nếu xét kỹ sẽ thấy:

1 – Tý và Ngọ khắc kị , chống đôi nhau mạnh. Còn Mẹo và Dậu cũng vậy. Nhưng Tý và Mẹo hay Dậu chỉ xung nhau chớ không khắc mạnh. Ngọ với Mẹo hay Dậu cũng xung nhau chứ không khắc chế.

2 – Thìn khắc chế và kị Tuất. Sửu khắc chế Mùi. Còn Thìn chỉ xung với Sửu, Mùi. Tuất chỉ xung với Sửu và Mùi.

3 – Dần khắc chế Thân. Tỵ khắc chế Hợi. Dần xung với Hợi . Thân cũng vậy .

Ngoài ra lưu ý Tứ hành xung lục hại (tuổi khắc):

1 – Mùi – Tý gặp nhau lắm tai họa

2 – Ngọ – Sửu đối sợ không may

3 – Tỵ – Dần tương hội thêm đau đớn

4 – Thân – Hợi xuyên nhau thật đắng cay

5 – Mão – Thìn gặp nhau càng khổ não

6 – Dậu – Tuất nọ trông lắm bi ai

Thuyết âm dương ngũ hành

Âm dương:

Âm dương không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà thuộc tính của mọi hiên tượng mọi sự vật, trong toàn thể vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết.

Âm dương là hai mặt đối lập: Mâu thuẫn – Thống nhất, chuyển hoá lẫn nhau, dựa vào nhau mà tồn tại, cùng triệt tiêu thay thế nhau. Trong dương có mầm mống của âm, ngược lại trong âm có mầm mống của dương. Trong tất cả các yếu tố không gian, thời gian, vật chất ý thức đều có âm dương. Âm dương không những thể hiện trong thế giới hữu hình kể cả vi mô và vĩ mô mà còn thể hiện cả trong thế giới vô hình, hay gọi là thế giới tâm linh như tư duy, cảm giác, tâm hồn …từ hiện tượng đến bản thể..

Ngũ hành:

Có 5 hành: Hoả (lửa), Thổ (Đất), Kim (Kim loại), Thuỷ (nước, chất lỏng). Mộc (cây cỏ). Theo quan niệm cổ xưa thì mọi vật chất trong vũ trụ đầu tiên do 5 hành đó tạo nên.

Ngũ hành có quy luật sinh, khắc chế hoá lẫn nhau. Để bạn đọc dễ hiểu, dễ nhớ chúng tôi xin trình bày luật tương sinh, tương khắc dưới dạng mấy câu ca dao sau:

Ngũ hành sinh:

Ngũ hành sinh thuộc lẽ thiên nhiên:

Nhờ nước cây xanh mới mọc lên (Thuỷ sinh mộc- màu xanh)

Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (Mộc sinh hoả- màu đỏ)

Tro tàn tích lại đất vàng thêm (Hoả sinh thổ: Màu vàng)

Lòng đất tạo nên kim loại trắng ( Thổ sinh kim: màu trắng)

Kim loại vào lò chảy nước đen (Kim sinh thuỷ- màu đen)

Ngũ hành tương khắc:

Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày ( Mộc khắc thổ: Tụ thắng tán)

Đất đắp đê cao ngăn lũ nước (Thổ khắc Thuỷ: Thực thắng hư)

Nước dội nhanh nhiều tắt lửa ngay (Thuỷ khắc hoả: chúng thắng quả, nhiều thắng ít)

Lửa lò nung chảy đồng, chì, thép (Hoả khắc kim: Tinh thắng kiên)

Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây ( Kim khắc mộc: cương thắng nhu).

Ngũ hành chế hoá:

Chế hoá là ức chế và sinh hoá phối hợp nhau. Chế hoá gắn liền cả tương sinh và tương khắc. Luật tạo hoá là: mọi vật có sinh phải có khắc, có khắc sinh, mới vận hành liên tục, tương phản tương thành với nhau.

Mộc khắc Thổ thì con của Thổ là Kim lại khắc Mộc

Hoả khắc Kim thì con của Kim là Thuỷ lại khắc Hoả

Thổ khắc Thuỷ thì con của Thuỷ là Mộc lại khắc Thổ

Kim khắc Mộc thì con của mộc là Hoả lại khắc Kim

Thuỷ khắc Hoả thì con của Hoả là Thổ lại khắc Thuỷ

Nếu có hiên tượng sinh khắc thái quá không đủ, mất sự cân bằng, thì sẽ xảy ra biến hoá khác thường. luật chế hoá duy trì sự cân bằng: bản thân cái bị khắc cũng chứa đựng nhân tố (tức là con nó) để chống lại cái khắc nó.

-st-

 

So do Ngu hanh

TRẬN THẮNG ĐẦU TIÊN CHỐNG GIẶC PHƯƠNG BẮC CỦA VỊ VUA ĐẦU TIÊN VIỆT NAM (THỤC PHÁN AN DƯƠNG VƯƠNG)

Posted in Lịch sử on 17/02/2014 by ktstruongvancuong

Trong những trận chiến đánh lại giặc phương Bắc của quân và dân ta, trận chiến do Thục Phán (ông tự xưng là vua năm 257 trước công nguyên, hiệu An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê, nay là vùng Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội) lãnh đạo đánh bại quân Tần có

ý nghĩa vô cùng quan trọng.Ảnh

Theo chép lại của sử sách, sau khi thống trị toàn Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng mở những cuộc chiến tranh bành trướng quy mô lớn xuống phía nam Trường Giang thôn tính các tộc người Việt (Bách Việt). Năm 214 trước công nguyên, quân Tần tiến vào vùng cư trú của người Âu Việt và Lạc Việt. Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư dẫn 50 vạn quân xâm lấn nước ta ở vùng Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông. Số quân này được chia làm 5 đạo.

Khi đó, Thục Phán trở thành một thủ lĩnh đứng lên chống Tần.

Quân và dân ta kiên trì cuộc kháng chiến chống quân Tần với cách đánh theo kiểu “vườn không nhà trống” và chiến tranh du kích, ban ngày thì lẩn tránh vào rừng, ban đêm mới tập kích, phục kích. Sách Hoài Nam Tử có viết: “Lúc đó, người Việt đều vào rừng ở với cầm thú, không ai chịu để quân Tần bắt”, và “họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần” .

Cuộc chiến chống Tần của người Việt diễn ra trong nhiều năm. Quân Tần tổ chức tấn công tiêu diệt không hiệu quả, dần dần lương thực bị tuyệt và thiếu, muốn tiến hay lui đều bị người Việt bủa vây đánh úp.

Hễ chúng truy kích liền vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của quân ta. Trong cuộc chiến này, ngoài công lao của Thục Phán, nhiều chuyên gia sử học đánh giá, việc đánh bại quân Tần xâm lược có phần rất lớn từ công lao của nhân dân Văn Lang.

Quân Tần vừa thiếu thốn lương thực vừa bị tiêu hao lực lượng lâm vào cảnh “tiến không được thoái cũng không xong”. Nhìn thấy thời cơ đã đến, Thục Phán cho quân đánh tập kích bất ngờ và dùng cung nỏ chống lại quân Tần, làm tổn thất nhiều binh lính của Đồ Thư.

Thảm cảnh của quân giặc đã được sử sách chép lại như sau: Đóng binh ở đất vô dụng… tiến không được, thoái không xong. Đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta phải thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau”.

Quân Tần bị thua nặng, chết quá nửa quân số, Đồ Thư bị giết. SáchHoài Nam tử mô tả về tình cảnh của giặc: “Thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người”.

Đây là thắng lợi oanh liệt đầu tiên của cả dân tộc ta chống lại họa xâm lược của phong kiến phương Bắc. Bằng cuộc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, nền độc lập mới sơ khai của nước ta đã được giữ gìn và củng cố. Sau chiến thắng, An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa nhằm củng cố thêm khả năng phòng thủ quân sự.

 -ST-

Ngày tam nương là ngày gì?

Posted in Uncategorized on 03/01/2014 by ktstruongvancuong

Ngày tam nương là ngày gì?

Người ta hay nói ngày xấu là ngày tam nương. Tam nương nghĩa là gì?

Ngày tam nương (tam nương nhật 三娘) theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v…) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm sáu ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng âm lịch.

Tam nương là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ 妺喜, Đát Kỷ 妲己, và Bao Tự 褒姒. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu vào trước Công nguyên (TCN). Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau:

1. Muội Hỉ mê hoặc vua Kiệt 桀 (tức Lý Quý 履癸, cai trị ? – 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ 夏 (khoảng 2100 TCN – 1600 TCN).

2. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ) mê hoặc vua Trụ 紂 (tức Đế Tân 帝辛, cai trị khoảng 1154 TCN – 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương 商 (khoảng 1600 TCN – 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hóa ra mỹ nhân.

3. Bao Tự (?-771 TCN) mê hoặc vua U 幽 (tức Cơ Cung Niết 姬宮涅, cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu 西周 (khoảng 1066 TCN – 771 TCN).

Vua U chưa bao giờ thấy nàng cười, ra lệnh ai làm nàng cười sẽ được thưởng ngàn lạng vàng. Nhà thơ Lý Bạch viết: “Mỹ nhân nhất tiếu hoán thiên kim” (Ngàn vàng đổi lấy một nụ cười người đẹp). Nàng thích nghe tiếng lụa bị xé, vua U cho xé lụa ngày đêm để nàng vui, thậm chí còn cho đốt lửa trên các hỏa đài để đánh lừa các chư hầu đem quân về cứu Thiên tử nhà Chu (vua U). Bao Tự đứng trên lầu cao, nhìn cảnh chư hầu mắc lỡm, cười ngặt nghẽo (xem minh họa đính kèm). Hậu quả, khi bị quân Khuyển Nhung vây khổn nguy ngập, vua U cho đốt lửa trên hỏa đài thì các chư hầu không thèm về cứu vì đinh ninh là trò lừa bịp cốt làm vui lòng người đẹp.

Theo dân gian Trung Quốc, ngày tam nương là ngày ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ, Bao Tự được đưa vào nội cung của ba ông vua bị mang tiếng là rất hiếu sắc, tham dâm, bạo ngược vô đạo nói trên. Nhưng vì sao chỉ có ba nàng mà lại kể ra sáu ngày nhập cung? Ngày nào liên quan tới nàng nào? Xưa nay chẳng thấy ai giải thích!

Dù hoang đường nhưng tín ngưỡng dân gian lâu đời này đã truyền từ Trung Quốc sang Việt Nam, ảnh hưởng tới không ít quần chúng xưa nay. Thiếu cơ sở khoa học, thiếu bằng chứng xác thực, nhưng thói thường vẫn cho rằng “có kiêng có lành”!

(Source: Blog thánh thất Bàu Sen)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 297 other followers